Doanh nghiệp cho nhân viên vay tiền không tính lãi suất, dù là một chính sách phúc lợi, vẫn có thể tiềm ẩn rủi ro bị cơ quan thuế ấn định doanh thu để truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) nếu giao dịch bị xem là không theo giá thị trường.
I. Rủi ro và hậu quả pháp lý
- Rủi ro chính: Cơ quan thuế có thể ấn định một mức lãi suất theo giá thị trường (thường là lãi suất cho vay tương đương của các ngân hàng thương mại tại thời điểm đó) để tính ra một khoản doanh thu từ hoạt động cho vay, dù thực tế doanh nghiệp không thu lãi.
- Hậu quả: Doanh nghiệp sẽ bị truy thu số thuế TNDN tương ứng với khoản doanh thu bị ấn định, đồng thời có thể bị phạt vi phạm hành chính về thuế và tính tiền chậm nộp.
II. Giải pháp an toàn và các trường hợp liên quan
1. Giải pháp khi cho nhân viên vay
- Lập hợp đồng vay: Doanh nghiệp nên lập hợp đồng vay rõ ràng, quy định mức lãi suất phù hợp với lãi suất thị trường tại thời điểm cho vay.
- Xây dựng quy chế tài chính: Ban hành quy chế phúc lợi, trong đó có chính sách cho nhân viên vay vốn với lãi suất ưu đãi (hoặc không lãi suất) để chứng minh đây là khoản chi phúc lợi, không nhằm mục đích trốn thuế.
- Kê khai thuế: Nếu có thu lãi, doanh nghiệp cần xuất hóa đơn và kê khai doanh thu hoạt động tài chính đầy đủ.
2. Trường hợp doanh nghiệp vay tiền của nhân viên
Chi phí lãi vay trả cho nhân viên sẽ được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Khoản vay phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Có hợp đồng vay, chứng từ chi tiền đầy đủ, hợp lệ.
- Lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức trần 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Lưu ý: Quy định cũ về “150% lãi suất cơ bản” đã hết hiệu lực từ ngày 01/07/2024.
- Chi phí lãi vay tương ứng với phần vốn điều lệ còn thiếu sẽ không được trừ.
III. Lưu ý về giao dịch liên kết
Trường hợp cho vay giữa các bên có quan hệ liên kết (ví dụ: công ty mẹ cho công ty con vay, hoặc doanh nghiệp vay của cổ đông/thành viên góp vốn…) phải tuân thủ chặt chẽ quy định tại Nghị định 132/2020/NĐ-CP:
- Tổng chi phí lãi vay được trừ (sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay) không được vượt quá 30% tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay và chi phí khấu hao trong kỳ (EBITDA).
- Phần chi phí lãi vay không được trừ sẽ được chuyển sang các kỳ tính thuế tiếp theo, thời gian chuyển không quá 05 năm liên tục.