Khoản thưởng Tết của người lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội nhưng phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định pháp luật. Dưới đây là chi tiết các quy định liên quan:
I. Quy định về Bảo hiểm xã hội (BHXH)
- Tiền thưởng Tết không được tính vào mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) hàng tháng.
- Theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, thu nhập tính đóng BHXH chỉ bao gồm tiền lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác có tính chất thường xuyên, không bao gồm các khoản phúc lợi và tiền thưởng đột xuất như thưởng Tết. Do đó, cả doanh nghiệp và người lao động đều không phải trích đóng các khoản bảo hiểm này trên số tiền thưởng Tết.
II. Quy định về Thuế thu nhập cá nhân (TNCN)
Ngược lại với BHXH, tiền thưởng Tết được xác định là một khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công và phải chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định.
1. Cách tính thuế TNCN đối với thưởng Tết
Thuế TNCN không được tính riêng cho khoản thưởng Tết mà được cộng chung vào tổng thu nhập chịu thuế của người lao động trong tháng nhận thưởng. Cách tính cụ thể như sau:
- Bước 1: Xác định tổng thu nhập trong tháng, bao gồm cả tiền lương và tiền thưởng Tết.
- Bước 2: Trừ đi các khoản giảm trừ theo quy định (giảm trừ gia cảnh cho bản thân, người phụ thuộc, các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc, quỹ hưu trí tự nguyện, các khoản đóng góp từ thiện…).
- Bước 3: Áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần (thuế suất từ 5% đến 35%) đối với phần thu nhập tính thuế còn lại sau khi đã giảm trừ.
2. Trách nhiệm của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có nghĩa vụ khấu trừ số thuế TNCN phải nộp trước khi chi trả tiền thưởng Tết và các khoản lương, thưởng khác cho người lao động. Số thuế này phải được nộp vào ngân sách nhà nước theo đúng thời hạn quy định (chậm nhất là ngày 20 của tháng tiếp theo tháng chi trả thu nhập).
Lưu ý quan trọng
- Khoản thưởng Tết không tính đóng bảo hiểm xã hội nhưng vẫn chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định hiện hành.